Top tìm kiếm

#271 Bước Từng Bước | Truyện ngắn: Mua Vui Giữa Đời


                    #271   Bước Từng Bước | Truyện ngắn: Mua Vui Giữa Đời
Truyện ngắn “Mua Vui Giữa Đời” kể về bà Bốn, một người phụ nữ không theo Công giáo nhưng dành cả đời để yêu thương, chăm sóc và âm thầm sống vì người khác. Từ một đứa trẻ bị bỏ rơi, bà được nhận nuôi và lớn lên trong tinh thần “mua vui giữa đời” – nghĩa là sống để đem niềm vui, sự tử tế và lòng nhân ái cho tha nhân.

📖 Truyện ngắn: Mua Vui Giữa Đời

🏆 Trong tuyển tập các tác phẩm vào vòng chung khảo giải truyện “Hy vọng và Hòa giải” – Vatican News Tiếng Việt 2025

✍️ Tác giả: Phạm Đình Duy 🎙 Giọng đọc: Sách và Bạn

 

Mỗi tuần hai lần, tôi ghé nhà thờ Xóm Thuốc, giáo hạt Gò Vấp cách đều đặn: một lần đưa đón con học giáo lý rồi tham dự Thánh Lễ ngày Chúa Nhật; và một lần đón con dâng lễ thiếu nhi chiều thứ năm. Cha mẹ đón con, bà đón cháu đứng xếp hàng phía trước hành lang bờ rào bên ngoài. Hình ảnh này không xa lạ gì với thời đại hiện nay ở Việt Nam, từ trường học tới nhà thờ.

Tuy vậy, chuyện tôi sắp kể về một người đàn bà đón cháu khá đặc biệt. À, mà đúng ra, nó không phải cháu ruột. Cháu nuôi? Không biết! Bà đóng quá nhiều vai trò đối với đứa cháu ấy, khiến tôi không biết bà có liên hệ máu mủ ruột rà gì với nó để diễn đạt cho đúng nữa. Người ta quen gọi đó là bà Bốn.

Bà Bốn hòa chung cùng đoàn người đứng bên ngoài nhìn vào, chờ tan lễ đón cháu. Trong số những người chờ đợi ấy, bà Bốn khác nhất: bà không có đạo.

Bà quê Kiên Giang, lên Sài Gòn ở với gia đình chị từ ba đời nay. Khoảng 30 năm trước, bà về sống với cha mẹ chị. Bà chăm sóc chị. Bà nuôi nấng chị. Và, chị gọi bà bằng danh từ thân thương: mẹ Bốn.

Lúc đó, gia đình chị sinh sống ở quận Phú Nhuận. Căn nhà nằm trong hẻm nhỏ đường Lê Văn Sỹ, bên cạnh đường ray xe lửa. Chị là “đứa con cầu con khẩn” nên được cưng chiều. Cha mẹ chị là phật tử thuần thành. Họ ăn chay bốn ngày hàng tháng và viếng chùa thường xuyên. Họ làm ngành đường sắt nên chọn căn nhà gần ga Hòa Hưng sinh sống, hầu thuận tiện công việc. Hằng ngày, tiếng xe lửa qua lại đã làm quen tai. Nghe đồn, bà Bốn có “dây mơ rễ má” hoặc bà con rất xa với gia đình chị. Cha mẹ chị lặn lội tìm trong mớ bà con quen biết, và chọn bà lên sống chung như người nhà, hầu chăm sóc chị, đứa con gái duy nhất “khó nuôi” từ lúc lên năm.

Bà Bốn chăm sóc chị đặc biệt từ mẫu giáo tới hết năm lớp 12. Thời còn trẻ, bà lái xe máy đưa đón chị đến trường. Sáng, bà đánh thức chị dậy ăn uống, chiều đón chị về tắm rửa, tối dạy chị học và hát ru chị ngủ. Từng chữ E chữ A đầu đời của chị bắt nguồn từ bà. Trí nhớ bà tốt như cái máy cassette thu âm đời đầu vậy. Từng bài vọng cổ quê xưa, bà thuộc lòng chi tiết đến từng ngữ điệu. Bà ru chị từng giấc ngủ ngon. Giọng bà ngọt ngào như đường mật lúa non. Lúc chị đau bệnh khóc nhè, bà bên cạnh ân cần ỉ ôi.

Một lần, chị bệnh “thập tử nhất sinh”, các ống dây chuyền nước đưa vào người khắp nẻo. Bà túc trực bên cạnh chị suốt 24/24 giờ chẳng dám chợp mắt. Chị ngủ, bà thức. Chị nửa tỉnh nửa mê, bà càng tỉnh táo hơn. Cặp mắt bà luôn dán lên bình serum treo lơ lửng trên đầu giường nhỏ từng giọt, canh tới lúc gần cạn thay thế. Bà đói và chị cũng đói. Chị thèm kẹo và năn nỉ bà:

  • Mẹ Bốn ơi, cho con viên kẹo đi, con đói bụng quá!

Bà biết bác sĩ tuyệt đối cấm, không cho chị ăn uống gì trong giai đoạn này để theo dõi. Bà cố dụ chị:

  • Bác sĩ dặn, con đang bệnh nên ráng chịu khó đừng ăn uống, mai mốt khỏi bệnh về nhà tha hồ ăn. Con mà ăn kẹo vào thì nước thải ra màu kẹo, ba mẹ con và bác sĩ biết sẽ la rầy. Con đang bệnh, ba mẹ không la con được, nên sẽ rầy mẹ Bốn đấy.

Chị nghe lời mẹ Bốn, ráng ngậm cơn đói. Bình thường, chị đâu bao giờ cảm nhận được cái đói. Bụng chưa lưng lửng đã được bồi đủ thứ thức ăn rồi; nào là sữa, bánh kẹo, trái cây… Nay chị đói, ba mẹ chị nhìn xót lắm; và mẹ Bốn càng xót hơn. Nửa đêm, chị giật mình loi ngoi ngó quanh, thấy bà Bốn trốn dưới gầm giường ăn vội miếng bánh mì khô. Chị lồm cồm hỏi:

  • Mẹ Bốn ơi, mẹ trốn con ăn gì vậy, cho con ăn với.

Bà Bốn quẹt miệng thật nhanh, lật đật giấu giếm:

  • Mẹ uống nước chứ có ăn gì đâu.

Chị cố nài nỉ, nũng nịu:

  • Cho con ăn kẹo đi! Mẹ Bốn cho con ăn kẹo màu trắng, con lỡ ói cũng ra nước trắng, các đường dây nếu chảy nước ra cũng màu trắng, bác sĩ không biết đâu. Mẹ Bốn đừng cho con ăn kẹo màu vàng hay màu đỏ là được. À, màu xanh cũng không được, chỉ màu trắng thôi nhen. Đi mà, cho con viên kẹo nhỏ hay chút xíu cái bánh gạo cũng được!

Trời ơi, chị thông minh và lanh lẹ đến vậy. Chị càng nói thì bà càng xót ruột. Bà bấm bụng giả lả đóng cửa, rồi ra ngoài chùi nước mắt. Bà thương chị như con ruột. Mà đối với bà, chị khác gì đứa con ruột đâu.

Bà nghĩ về phận mình. Bà là con nuôi trong một gia đình giàu có. Nghe kể lại, cha mẹ ruột bỏ bà lúc mới sinh. Cha mẹ nuôi đêm nọ lang thang ngoài bãi biển Rạch Giá, thấy con chó nơ bọc nilon chạy ngang vứt bỏ. Ông bà tới ngó xem thì mới phát hiện ra bà. Dây rốn còn nguyên, lòng thòng khô quéo. Mấy con kiến nhỏ bu quanh mắt và cát biển dính lấm tấm trên làn da non.

Ông bà đem bà về nuôi từ ấy và đặt tên Bốn, hầu thay thế đứa con gái thứ bốn đã mất. Giấy tờ của người con đã mất được gắn cho bà. Bà đóng vai thay thế thân phận ấy: bà trở thành con. Như vậy, số tuổi giấy tờ của bà so với thực tế chênh lệch xa lắm. Sau này, nhiều người nhìn bà khen trẻ hơn tuổi, bà cười. Cũng vì lý do đó, bà Bốn yêu biển hơn cả. Bà hay đùa: tôi luôn trẻ như biển, lúc nào cũng xanh màu mơn mởn.

Thời đó, gia đình cha mẹ nuôi bà vốn đông con và khá giả, nên thêm bà cũng chẳng sao. Đứa lớn chăm đứa nhỏ. Cha mẹ nuôi của bà không theo tôn giáo nào. Bà nhớ lại, bà chưa từng thấy ông bà ấy đến nhà thờ hay nhà chùa nào cả. Vậy mà, lòng nhân ái của họ tuyệt vời. Ai nghèo thì ông bà cho tiền. Ai đói thì ông bà cho thức ăn. Ai giá lạnh thì ông bà cho áo quần, mền chiếu. Ai học giỏi thì ông bà cho sách vở. Ai đau đớn khổ cực, ông bà tỉ tê lắng nghe câu chuyện đời. Ai bị ức hiếp thì ông bà ra tay nghĩa hiệp. Ai tới xin, ông bà đều cho. Ai lừa, ông bà đành chịu. Ông bà theo đạo ông Trời.

Bà nhớ lại, cha mẹ nuôi của bà dạy dỗ con cái đàng hoàng lắm, dù con ruột hay con nuôi phải sống nhân bản nên người và luôn “vui giữa đời”. Một điểm đặc biệt ghi nhớ là áo quần ông bà mặc, luôn luôn có túi. Có lần, bà nhìn thấy mẹ nuôi cứ cặm cụi may vá, chỉnh sửa túi áo đã mòn sờn, bà lân la tới hỏi:

  • Sao áo cha mẹ lúc nào cũng phải may cái túi lớn?

Mẹ nuôi bà trả lời:

  • Đây không phải cái túi, mà là dụng cụ quyền năng: dụng cụ “mua vui giữa đời”.

Bên cạnh đó, cha mẹ nuôi của bà may áo cho con cái, tất cả đều phải có túi. Họ dạy dỗ và căn dặn rằng:

  • Túi áo để làm gì, các con có biết không? Để bỏ tiền giúp người! Tiền trong túi áo móc ra dễ hơn trong túi quần hay bất kì chỗ nào khác. Túi áo nằm gần sát trái tim. Cho nên, nếu các con muốn làm việc thiện, thì phải thiện từ trong tim trước.

Sau này và cho tới hôm nay, thời trang thay đổi, nhiều loại áo đời mới thiết kế không có túi. Nhưng với bà Bốn, bà luôn chọn loại áo có túi bên ngực trái. Bà nhét tiền vào đấy để dễ vương vãi. Bà làm việc này hầu nhớ ơn cha mẹ nuôi và đáp trả cuộc đời.

Khi bà vừa lớn tầm 16 tuổi, cha mẹ nuôi tìm chỗ quen biết giới thiệu công việc cho bà. Bà cộng tác và phụ việc cho một bác sĩ người Mỹ chừng ba năm. Thời ấy, người ta gọi việc đó là làm “sở Mỹ”. Hằng ngày, bà tới phòng mạch giúp ông chuẩn bị công cụ đồ nghề. Bà siêng năng chăm chỉ và cẩn thận. Dần dần, ông dạy bà biết cách sơ cứu bệnh nhân, biết bốc thuốc, biết khám bệnh và thậm chí biết tiểu phẫu những vết thương cơ bản. Gần nhau, ông Mỹ ấy phát sinh tình cảm. Ông thương bà và muốn cưới bà làm vợ. Tuy nhiên, cha mẹ nuôi không ưng lắm nên cuộc tình ấy lặng lẽ trôi qua.

Sau biến cố năm 1975, gia đình cha mẹ nuôi vượt biên. Lúc họ ra đi, bà không có mặt ở nhà nên bị lỡ chuyến. Thời ấy, tin tức và tình thế cấp bách. Người nào hiện diện ở nhà thì lên đường. Chỉ duy nhất bà sót lại. Một thời gian sau, bà nghe thông tin chuyến hải trình ấy gặp nạn và gia đình cha mẹ nuôi bị chôn vùi trong lòng biển. Tới nay, dù bà vẫn hy vọng tìm gặp lại thành viên nào trong gia đình ấy, nhưng biền biệt vô âm tín.

Bà tiếp tục cuộc sống đơn độc giữa đời. Bà trở về Kiên Giang, theo nghề y tá học lỏm được từ ông bác sĩ người Mỹ nọ. Bà tận dụng phần trước căn nhà mở phòng khám nho nhỏ ở vùng làng quê. Bà lấy chồng nhưng hiếm muộn. Chồng bà đâm chán nản và bỏ đi từ đó. Bà hụt hẫng thời gian, rồi lại tiếp tục cuộc đời với nghề y tá bập bõm qua ngày. Sự tận tụy của bà dù cố mấy cũng chỉ tương đối. Sau này, người có bằng cấp hẳn hoi mới được phép mở phòng khám, nên bà lui về săn sóc người già và trẻ con khi ai đó cần đến.

Cha mẹ chị lặn lội về quê Kiên Giang hỏi thăm, tìm người lên Sài Gòn chăm sóc chị. Và, người này người kia giới thiệu, bà Bốn lên ở với gia đình chị từ đó, lúc chị mới 5 tuổi. Bà đóng vai vừa là mẹ, là thầy, là bạn, là người hướng dẫn tôn giáo cho chị.

Gia đình chị Phật Giáo. Hàng tuần, bà đưa chị tới ngôi chùa Huyền Trang gần nhà, tham gia các lớp sinh hoạt, từ lớp Măng Non ngành Oanh cho tới lớp Trưởng Thành ngành Thiếu. Bà dắt chị tham gia đều đặn. Lễ Quy Y của chị, bà chăm chút và dặn dò kỹ lưỡng. Kinh Chú Đại Bi bà thuộc nằm lòng. Hàng đêm, chị học bài trong phòng, bà lẽo đẽo theo bên ngoài quan sát, chăm sóc. Sách vở chị học, bà coi trước và giảng giải. Cha mẹ chị thấy vậy an lòng, đặc biệt mẹ chị.

Cuộc đời dần trôi, chị lớn lên xinh đẹp, giỏi giang và duyên dáng. Chị thi vào ngành Hàng Không và đạt kết quả tốt. Chị ra trường hạng ưu và làm việc ở sân bay Tân Sơn Nhất. Chị quen và cưới anh. Anh thuộc gia đình Công Giáo đạo đức truyền thống.

Lúc anh chị mới quen nhau, cha mẹ chị dù không muốn nhưng họ tôn trọng ý kiến chị. Họ gợi ý:

  • Con hỏi thử mẹ Bốn có đồng ý chuyện này không? Mẹ Bốn ưng thì ba mẹ chịu.

Chị chưa cần nhắc lại lần thứ hai, mẹ Bốn đồng ý ngay. Đối với mẹ Bốn, chị mới là số một. Chị muốn ăn cá, bà mua cá. Chị muốn ăn thịt, bà mua thịt. Chị muốn học trường Hàng Không, bà khuyến khích chị. Chị muốn đi chùa, bà dắt tới chùa. Chị muốn chơi Noel, bà chẳng nề hà. Chị muốn lấy chồng có đạo, bà vui vẻ đồng thuận…

Vậy là cuối cùng, chị lấy anh. Chị không rửa tội nhưng đồng thuận cho con cái rửa tội theo đạo của chồng. Chị giống bà. Đối với chị, con cái mới là số một. Chồng con mới là số một. Hạnh phúc gia đình mới là số một. Chị không bao giờ để sự “miên viễn” ấy bị mấy thứ vặt vãnh tạm bợ phá vỡ. Chị ít khi tranh luận về tôn giáo. Chị luôn tâm niệm, tôn giáo để sống chứ không phải cãi nhau hơn thua. Chị càng lúc càng giống bà.

Anh chị sinh đứa con thứ hai được hai tuổi thì cha của chị lâm bệnh, rồi mất. Mẹ chị sau đó buồn và đột quỵ ngã bệnh. Bà nghỉ công việc bên ngành đường sắt, về hưu. Anh chị quyết định chuyển sang nhà mới cho thuận tiện công việc, nên mua căn nhà ở Gò Vấp, gần sân bay Tân Sơn Nhất, đưa hai người mẹ về đây chung sống. Mẹ ruột chị giờ lớn tuổi, nằm yên một chỗ, dù tâm trí vẫn sáng suốt. Kể từ ấy, bà Bốn phải chăm sóc cả hai phận người lớn nhỏ: con chị và mẹ chị.

Căn nhà mới chẳng khác nhà xưa là mấy. Nó nằm phía dưới đường máy bay hạ cánh. Bình thường, cứ khoảng mười phút một chuyến. Ngày lễ tết, tần suất dày hơn, tầm năm phút một chuyến. Lúc đầu hơi khó chịu, dần dần, mọi thứ đi vào thói quen như tiếng xập xình của các chuyến tàu vào ra sân ga. Bà Bốn bắt đầu yêu tiếng máy bay, giống yêu tiếng xập xình réo thét còi hú tàu hỏa vào ga Hòa Hưng vậy.

Bà Bốn tiếp tục công việc xưa, là đưa đón trẻ thơ đến trường và đến nhà thờ. Xưa, bà đón đưa chị. Nay, bà đón đưa con chị. Thằng nhóc năm nay vừa tròn năm tuổi, bằng tuổi chị năm xưa. Mỗi tuần hai lần, bà đưa nó tới nhà thờ Xóm Thuốc. Bà đứng bên ngoài chờ. Bà thuộc kinh. Bà đeo chuỗi. Bà thắt khăn quàng Thiếu Nhi Thánh Thể tuyệt đẹp. Bà nhớ các ngày Lễ Trọng trong năm. Bà biết từng khóa học giáo lý…

Mấy lần, bà đứng ngoài hiên nhà thờ chờ đón cháu, người qua đường ghé ngang, dừng xe, tạt hỏi:

  • Nhà thờ này mấy giờ lễ vậy bà?

Bà trả lời vanh vách như thuộc lòng trong trí:

  • Ngày thường hai lễ: sáng 5h, chiều 6h. Ngày Chúa Nhật bốn lễ: sáng 5h và 7h30; chiều 4h30 và 6h.

Bà quen mặt hầu hết các phụ huynh đưa đón con. Bà biết cha xứ và người phục vụ nhà thờ. Bà biết cách cúi chào và đồng phục ngày lễ. Cha xứ cũng biết bà. Ngài hay lân la chuyện trò. Có lần, hai người đang đứng trước nhà thờ, cô bán vé số chìa vào trước mặt. Bà mua. Rồi, một người nữa tới chào, bà mua. Và, thêm một người nữa, bà móc tiền ra mua hết. Cha xứ hỏi bà:

  • Bà thường mua vé số lắm hả?

Bà cười hiền hòa, móc trong túi ra một xấp “mới ken”:

  • Con có biết gì vé số đâu. Tuần này con mua được bấy nhiêu nè cha. Tí nữa về, con đưa cho con bé trước nhà, để nó coi thử có tờ nào trúng không.

Cha sở ngạc nhiên:

  • Bà không biết dò mà sao lại mua nhiều như thế? Lỡ trúng người ta nói trật thì sao?

Bà quơ tay xuề xòa, cười:

  • Mua vui giữa đời mà cha! Họ bán vé số, còn con mua niềm vui. Ai bán thì mình mua. Ai xin thì mình cho. Ai khóc thì mình dỗ. Ai nói thì mình nghe. Ai đau thì mình xoa dịu… Khi nào mình hết tiền và hết cách thì thôi. Tất cả là mua vui mà.

Bà thơ thẩn đưa mắt xa xa một lúc, rồi nhớ về quá khứ:

  • Cha biết không, con kể cha nghe chuyện này. Con học được điều ấy từ cha mẹ nuôi của con. Con mồ côi và được ông bà đem về nuôi. Ông bà không theo tôn giáo nào cả; và cũng không tham gia nhóm từ thiện hay đi làm thiện nguyện. Ông bà thích gì làm đó à. Có lần con hỏi: vì sao cha mẹ đem con về nuôi? Ông bà cười: mua vui giữa đời. Lúc đó con không hiểu, giờ con mới cảm được chút chút. Đúng vậy cha à, tất cả là mua vui giữa đời. Ai chà… tự nhiên cha hỏi làm con nhớ ông bà quá. Con cố gắng trả ơn ông bà bằng cách họa lại gương tốt ông bà đã từng làm.

Cha xứ hỏi thêm:

  • Chắc gia đình cha mẹ nuôi của bà lúc xưa giàu có lắm?

Bà trầm ngâm, hồi tưởng:

  • Con cũng không rõ. Nhưng, hình như ông bà có nhiều con cái lắm. Ông bà không biết ai là con ruột, ai là con nuôi, ai là dâu, ai là rể nữa. Cháu cũng vậy. Ông bà lẫn lộn cháu mình với cháu hàng xóm. Con chưa thấy ai như ông bà, chẳng phân biệt thân sơ. Con còn nhớ thời sau biến cố 1975, nhà ông bà sống ở Quận 10 và lúc nào cũng đông đúc người lui tới. Người thì nói từ quê mới lên. Người thì nói đói khổ không nơi tá túc… Ông bà chứa hết. Cứ chiều chiều, bà xách cái giỏ đi chợ, con lẽo đẽo theo sau, bà mua hết tiền mới về. Có lần, bà dẫn con vô quán ăn, bà trả dư thêm mấy phần. Con nhắc: mẹ đưa thừa tiền cho người ta kìa. Bà cười nói: không, mình đưa thiếu chứ sao thừa hả con. Sau đó, bà nắm tay con dắt ra cửa, dặn chủ quán: phần tiền thừa này phòng hờ có ai nghèo đói ghé tới thì bớt cho họ. Nếu họ không có tiền ăn thì miễn phí cho họ nhé.

Bà Bốn đưa tay quẹt ngang nước mắt:

  • Cha nhắc làm con nhớ gia đình ấy quá. Người tốt như vậy mà lúc vượt biên nghe đồn bị bão đánh chết hết. Sinh thời, ông bà hay nói câu: mua vui giữa đời. Con nghĩ, chắc đã đến lúc Trời biết ông bà vui đủ ở trần gian rồi, muốn đưa ông bà tìm niềm vui lớn hơn. Có lẽ giờ này ông bà đang mua vui ở nơi khác ấy cha.

Cha xứ thấy tay bà đeo tràng hạt là lạ, nên hỏi:

  • Tràng hạt bà đeo có ý nghĩa gì?

Bà cúi nhìn cỗ tràng hạt, rồi cười giải thích cách vô tư:

  • Con đeo hai tay hai loại. Bên tay phải là tràng hạt đạo Công Giáo. Tối về, con dạy các cháu đọc kinh trước khi ngủ. Còn tay này là tràng hạt niệm Chú Đại Bi, con ngân nga cho bà chủ hiện tại của con nghe. Bà nay già rồi, đang nằm liệt giường nhưng thích nghe kinh lắm. Bà là ân nhân thứ hai của con. Bà đưa con lên đây sống với bà từ thời còn trẻ. Cha biết không, đời con được Trời thương, gặp ai cũng tốt hết à.

Tiếng chuông ngân lên. Giờ giáo lý kết thúc. Bà xin phép cha sở vào đón cháu. Ngài thẫn thờ nhìn theo bóng dáng còm cõi ấy. Bà ôm đứa bé nâng niu, đội mũ, sửa quần áo thẳng thớm, chào cha sở, bước qua xóm chợ về nhà. Từng người trong khu chợ nhỏ cười chào với bà vui vẻ lắm. Ngài ngẫm nghĩ:

  • Giá mua hạnh phúc cuộc đời này, không quá khó.

Bà rảo vòng qua các dãy hàng chợ xô bồ. Ngôi nhà bà ở hiện nay sát vách Đài Phục Sinh. Lúc cha sở mới xây dựng, người xung quanh tỏ vẻ khó chịu lắm. Nhà nằm sát nhà thờ hay nhà chùa thì giá bán đã giảm rồi, huống hồ nằm bên cạnh nghĩa đường. Riêng gia đình bà, khi ấy bà bàn và đưa ý kiến với anh chị:

  • Tụi con không thích thì mình đi chỗ khác, còn thích thì mình cứ ở lại. Nếu các con không thích nơi này, mình bán rồi tìm căn khác mua. Lúc trước tới giờ, tiền của mẹ Bốn còn một ít đây. Cộng với số vàng bao năm cha mẹ tụi con cho mẹ, mẹ để hết chỗ này. Mình bán căn nhà này giá thấp một chút, nếu các con sợ lỗ thì mẹ Bốn bù cho. Tiền mẹ để đó chứ biết khi nào sử dụng đâu… Còn ngược lại, mình thích thì cứ ở.

Nghe vậy, anh chị liền phủi tay:

  • Trời ơi, nhà mình ở đây trước giờ có sao. Nhiều người mê tín mộng mị sợ thứ này thứ nọ vu vơ. Chứ ta nghĩ ở Sài Gòn và trên trái đất này, hàng triệu năm nay bao nhiêu sinh linh chết, rồi xác họ chôn vùi khắp chốn… Ai dám nói dưới chân ta không có xác người? Trái đất hình tròn, mình đứng bên này thì bên kia là nước Mỹ. Rồi, trái đất xoay vòng, mình rảo khắp cả vũ trụ. Xác người chết được an táng trong lòng vũ trụ, điều này khác gì đâu? Thú thật, tụi con không sợ gì cả, mẹ à. Điều chúng con lăn tăn nhất là chỉ sợ mùi nhang khói gây ảnh hưởng sức khỏe thôi. Ngày nay, nhang khói tẩm hóa chất nhiều nên gây độc hại. Mà nhà Phục Sinh này thuộc nhà thờ, người Công Giáo thường dùng hoa và nến thay nhang khói thì con nghĩ không ảnh hưởng tới sức khỏe mấy đâu.

Vậy là anh chị cũng thấm đẫm tinh thần của bà. Tất cả chỉ “mua vui giữa đời”. Trên sân thượng là khoảng trời riêng. Anh chị làm một khu vườn nhỏ, trồng rau với cái hồ cá để bà Bốn thư giản. Bà xong công việc, thường lên ấy chiêm ngắm mây trời. Mây bay rồi đến, hợp rồi tan. Gió lùa đưa mây che chắn trăng. Trăng hé mắt cười gian trần… Chuyện muôn đời vẫn thế. Bà Bốn ngồi nhìn trời, hai tay mân mê hai tràng chuỗi hạt.

Thời ấu thơ, gia đình bà sống bên cạnh bến xe liên tỉnh và đối diện với bến đò quê dưới vùng Rạch Giá. Bà thường nghe cha mẹ nuôi dạy bảo:

  • Con nhìn cảnh náo nhiệt nơi bến xe, bến đò mà học nguyên tắc cuộc đời. Xe khách, xe lôi, xe máy, xe tải cho đến tàu lớn, tàu nhỏ, ghe, thuyền, đò ngang… Mỗi thứ đều có nguyên tắc riêng. Xe chạy đường lớn không được, thì linh hoạt rẽ vào đường nhỏ. Tàu ghe di chuyển trên sông biển cũng thế. Có xe chạy đường trường, có xe chạy đường dốc, có xe chạy đường thẳng, có loại chạy đường cong… Tàu thuyền tương tự; nhưng, tất cả đều về bến đỗ.

Rồi bà tiếp tục nhớ lại thời ở ga Hòa Hưng. Bà thường ẵm chị ngồi trước đường tàu và hay thủ thỉ với chị:

  • Con coi tàu chạy kìa. Xanh đỏ có đẹp không? Chúng tuân thủ kỷ luật dữ lắm. Chúng luôn luôn chạy trên một con đường. Chúng rất cô đơn nhưng chung thủy. Con nhìn kìa, tới đoạn nào kéo còi, tới đoạn nào giảm tốc độ, tới đoạn nào tăng tốc, tới đoạn nào vào ga… chúng tuân thủ răm rắp không sai. Con tàu cả đời chạy trên một đường ray nhưng không chán. Tàu vào ga, người ta chỉ cần lắp đầu ngược là kéo lui lại. Toa đầu bỗng chốc trở thành toa cuối. Toa cuối rồi biến thành toa đầu. Nguyên tắc về tàu hỏa trên đường ray chẳng khác đời người, con có biết không?

Hôm nay, chị thấy bà ôm cháu lên sân thượng ngắm máy bay. Bà lui cui mang mớ áo ra vá các túi đã sờn rách. Bà thủ thỉ với đứa cháu nhỏ:

  • Con nhìn ra xa kìa, máy bay lớn nhỏ xếp lớp trên bầu trời như thể đứng chờ tới lượt hạ cánh. Khoảng cách máy bay phải giữ cố định để an toàn. Máy bay “lên và xuống” đều phải ngược gió; và phần đầu luôn ở vị trí cao hơn phần đuôi. Đó, con coi kỹ kìa, lúc máy bay hạ cánh, mấy cái bánh sau tiếp giáp đường băng tóe lửa, rồi mới tới phần đầu. Đầu ra đầu, mà đuôi ra đuôi. Máy bay giống như mình vậy, đừng biến đầu thành đuôi, coi chừng gãy đổ. Con nhớ nhé!

Thằng bé loi nhoi, hí hửng hỏi bà:

  • Máy bay có bay vào túi áo được không bà?

Bà cười và giơ túi áo lên cao trước mặt:

  • Được chứ! Con nhìn đây, máy bay từ bên ngoài bay vào, rồi bay ra. Nè, con nhìn thử coi thấy gì không?

Thằng bé hớn hở chụm đầu nheo mắt:

  • A… bà Bốn, máy bay bay ra từ túi áo mang hình trái tim. Đẹp quá! Con thấy nó đang đập chớp chớp kìa…

Tiếng chuông nhà thờ rung. Tiếng kinh đêm. Tiếng lốc cốc gõ mõ kinh Phật. Tiếng leng keng vợ chồng anh bán hủ tiếu gõ. Tiếng chợ búa. Tiếng rao hàng. Tiếng xe cứu thương ngoài lộ. Tiếng chổi xương quét đường lúc đêm khuya, tiếng máy bay lên xuống… Tất cả hợp chung với mùi nhang khói, hoa tươi, cống rãnh. Đó là hương vị niềm vui giữa đời.

 

Nguồn: vaticannews.va

Đăng nhận xét