Thật là điều đầy bí ẩn trong cách hành xử của Đức Giêsu trong bài Tin Mừng Chúa nhật này. Khi biết rằng người bạn của mình là La-da-rô “bị bệnh” (Ga 11,3), Người không làm gì cả, thậm chí còn ở lại “lưu lại thêm hai ngày tại nơi [Người] đang ở” (11,6).
Thoạt nhìn, thái độ như vậy không có vẻ hợp lý, cũng chẳng có vẻ đầy lòng thương xót. Nhất là vì – như tác giả Tin Mừng khẳng định – “Đức Giê-su quý mến cô Mác-ta, cùng hai người em là cô Ma-ri-a và anh La-da-rô.” (11,5).
Vậy tại sao Đức Giêsu chỉ nói rằng “bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa” (11,4), rồi vẫn dường như thụ động và không hành động?
Có lẽ Người làm vậy để trao ban một dấu chỉ, hầu không ai hiểu lầm rằng quyền ban và trả lại sự sống là đặc quyền của Thiên Chúa, như các ngôn sứ xưa đã nói:
“Hỡi dân Ta, này chính Ta mở huyệt cho các ngươi, Ta sẽ đưa các ngươi lên khỏi huyệt và đem các ngươi về đất Ít-ra-en.” (Ed 37,12).
Đức Giêsu nhận ra rằng đã đến lúc mầu nhiệm thần tính của Người được tỏ lộ trọn vẹn:
“Bấy giờ, các ngươi sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa, Ta đã phán là Ta làm. Đó là sấm ngôn của Đức Chúa.” (37,14).
Sau một sự “chậm trễ” kỳ lạ, Đức Giêsu lên đường đến với người bạn La-da-rô khi anh đã “chết” (Ga 11,14) và đã được “chôn trong mồ được bốn ngày” (11,17).
Khi chị Mác-ta nghe tin “Đức Giêsu đến”, chị ra đón Người và nói:
“Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết. (Ga 11,21).
Trong những lời này, ta thấy rõ một suy nghĩ tiềm ẩn của đức tin con người: rằng nếu Thiên Chúa thật sự hiện hữu, thì Ngài phải giúp ta tránh khỏi đau khổ.
Theo cách nghĩ này, đức tin của chúng ta chỉ dừng lại ở việc giảm thiểu thiệt hại, và trở nên thụ động trong việc tránh sai lầm, đồng thời trì hoãn việc đối diện với cái chết càng lâu càng tốt.
Giống như Mác-ta , chúng ta biết rằng con người sẽ “sống lại trong ngày sau hết” (11,24), nhưng chưa hiểu rằng “ngày sau hết” thực ra là ngay bây giờ, bởi vì Đức Giêsu là sự sống lại; ai “sống” và “tin” vào Người “thì dù đã chết, cũng sẽ được sống” (11,25).
Đúng là một ngày nào đó, mỗi người chúng ta sẽ phải chết. Nhưng cũng đúng rằng ngay từ bây giờ, chúng ta đã sống dưới ảnh hưởng của nỗi sợ cái chết.
Bóng tối vô hình nhưng mạnh mẽ này chính là động lực của “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt lịch sử nhân loại mà Kinh Thánh gọi là tội lỗi, bởi vì như thánh Phaolô nói thân xác con người phải chết “vì tội đã phạm” (Rm 8,10).
Đức Giêsu không hề sợ đối diện với phần tối tăm này nơi chúng ta. Người đến gần “mùi hôi thối” của chúng ta (Ga 11,39). Qua đó, Người mặc khải vẻ đẹp của một Thiên Chúa vô hình nhưng vô cùng nhạy cảm trước nỗi đau của con người.
Thiên Chúa yêu sự sống của chúng ta hơn chính chúng ta. Và nếu Ngài để cái chết xảy ra, thì chỉ để chúng ta học nhận ra “hương thơm” của sự hiệp thông yêu thương của Ngài giữa “mùi hôi” của cô đơn và bóng tối của tội lỗi.
Bằng một hành động có vẻ vô lý – nói với một người đã chết – Đức Giêsu nói với La-da-rô:
“Anh La-da-rô, hãy ra khỏi mồ !” (Ga 11,43).
Và người chết đã bước ra, sống lại. Nhờ phép lạ này, nhiều người “đã tin vào Người” (11,45).
Dấu lạ cuối cùng này không chỉ làm La-da-rô sống lại, mà còn làm sống lại trái tim của những người chứng kiến, trong khi chính La-da-rô vẫn sẽ phải một lần nữa đối diện với cái chết thể lý.
Nhưng dấu lạ này bày tỏ trung tâm của Tin Mừng: Thiên Chúa không cứu chúng ta khỏi cái chết, mà là trong cái chết.
Ngài không cất đi giới hạn cần thiết của thân phận thụ tạo, cũng không lấy đi phẩm giá của việc ý thức về giới hạn đó.
Ngài ban cho chúng ta ân sủng để hiểu và sống giới hạn ấy theo một cách mới – như cơ hội để hiện hữu trước nhan Ngài.
Chúng ta chỉ cần sẵn sàng để được gặp gỡ Ngài nơi tận sâu “ngôi mộ” của mình, vượt qua những chiếc mặt nạ mà ta thường mang để trở nên đáng kính và dễ mến trước mắt người khác – thậm chí trước cả Thiên Chúa.
Nhưng Thiên Chúa không xa cách: Ngài hiện diện, cháy bỏng tình yêu ngay trước ngôi mộ của chúng ta, sẵn sàng đưa ta vào một sự sống mới, ngay khi ta lắng nghe tiếng gọi mạnh mẽ của tình yêu:
“Hãy ra khỏi mồ!” (Ga 11,43).
Nguồn: vaticannews.va