Top tìm kiếm

Các Bài Suy Niệm Lễ Chúa Hiển Linh

Hãy Bừng Sáng Lên

(Lễ Hiển Linh)

“Hãy bừng sáng lên” (Is 60,1). Lời mời gọi ấy được ngôn sứ Isaia công bố trong Bài đọc I hôm nay, vang lên giữa bối cảnh lịch sử đầy thử thách của dân Ít-ra-en sau thời lưu đày. Giê-ru-sa-lem lúc ấy vẫn còn mang nhiều dấu vết hoang tàn, đời sống vật chất thiếu thốn, tinh thần rã rời và niềm hy vọng tưởng chừng đã tắt. Chính trong hoàn cảnh u ám ấy, ngôn sứ Isaia đã hướng cái nhìn của dân Chúa về một tương lai được phục hồi, khi Giê-ru-sa-lem được tái thiết và trở thành trung tâm quy tụ muôn dân. Trong viễn tượng ấy, ngôn sứ trình bày một nghịch lý mang chiều sâu cứu độ: “Kìa tối tăm bao phủ địa cầu, u minh phủ kín chư dân; nhưng trên ngươi, Đức Chúa bừng sáng, vinh quang của Người xuất hiện trên ngươi” (Is 60,2). Giê-ru-sa-lem được mời gọi bừng sáng không phải nhờ quyền lực hay vinh quang trần thế, nhưng vì có chính Thiên Chúa hiện diện và tỏ mình ra.

Tuy nhiên, lịch sử cho thấy Giê-ru-sa-lem được tái thiết sau lưu đày vẫn chưa đạt tới viễn tượng phổ quát mà Isaia đã loan báo. Điều đó cho thấy lời ngôn sứ vượt ra ngoài một biến cố lịch sử hay một không gian địa lý cụ thể, để hướng tới một sự hoàn tất sâu xa hơn trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Quả thật, lời hứa ấy chỉ được thực hiện trọn vẹn nơi Đức Giêsu Kitô, Đấng là “Ánh Sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người” (Ga 1,9). Nơi Người, Giê-ru-sa-lem mới được khai sinh, không còn bị giới hạn trong lãnh thổ Ít-ra-en, nhưng mở ra cho toàn thể nhân loại.

Viễn tượng ấy được tiếp nối trong bài đáp ca, khi tác giả thánh vịnh (Tv 71) ca tụng hình ảnh một vị vua lý tưởng, trong triều đại của ngài công lý và hòa bình ngự trị, người nghèo được giải thoát, kẻ yếu thế được bênh vực. Hội Thánh nhận ra nơi vị vua ấy dung mạo của Đức Giêsu Kitô, Vua Mêsia không cai trị bằng bạo lực hay áp đặt, nhưng bằng ánh sáng của công lý và lòng xót thương. Ánh sáng ấy không dành riêng cho một dân tộc, nhưng được trao ban như gia sản chung của muôn dân. Đúng như tác giả diễn đạt qua lời cầu nguyện: “Lạy Chúa, mọi dân tộc trên địa cầu đều thờ lạy Chúa” (Tv 71,11).

Chiều kích phổ quát đó được thánh Phaolô trình bày cách rõ ràng trong Bài đọc II. Đối diện với một não trạng Do Thái vốn coi ơn cứu độ như đặc ân riêng của dân được tuyển chọn, thánh Phaolô mạnh mẽ công bố mầu nhiệm đã được mạc khải: “Nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được nên đồng thừa tự, đồng một thân thể, và đồng thông phần lời hứa trong Đức Kitô Giêsu” (Ep 3,6). Ánh sáng Hiển Linh, vì thế, không còn bị giới hạn trong Ít-ra-en, nhưng chiếu soi muôn dân và quy tụ mọi người trong cùng một thân thể là Hội Thánh.

Mạc khải ấy đạt tới cao điểm trong Bài Tin Mừng theo thánh Matthêu, qua hình ảnh các đạo sĩ từ phương Đông. Họ là những người ngoại giáo, không thuộc Dân Giao Ước, nhưng lại là những người đầu tiên lên đường tìm kiếm và bái lạy Đấng Cứu Thế. Dưới ánh sáng của một ngôi sao, dấu chỉ vừa thuộc trật tự tự nhiên vừa mang chiều kích mạc khải, họ đã dám rời bỏ sự an toàn quen thuộc để lên đường tìm kiếm chân lý. Lời họ thưa với vua Hêrôđê tràn đầy xác tín: “Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người” (Mt 2,2).

Thế nhưng, cuộc hành trình của các đạo sĩ không hề bằng phẳng. Có lúc ánh sao như biến mất, họ lạc vào Giê-ru-sa-lem và phải đối diện với sự gian trá của vua Hêrôđê cũng như sự thờ ơ của những người thông thạo Kinh Thánh. Các thượng tế và kinh sư có thể trích dẫn chính xác lời ngôn sứ về nơi Đấng Mêsia phải sinh ra (x. Mt 2,6), nhưng họ đã không lên đường. Trái lại, các đạo sĩ, nhờ kiên trì tìm kiếm, đã thấy ánh sao xuất hiện trở lại; “họ mừng rỡ vô cùng” (Mt 2,10), và cuối cùng họ “vào nhà, thấy Hài Nhi với bà Maria, mẹ Người, liền sấp mình thờ lạy Người” (Mt 2,11). Như thế, ánh sáng Hiển Linh không chỉ dẫn họ đến một địa điểm, nhưng dẫn họ đến một cuộc gặp gỡ mang tính cứu độ.

Từ nền tảng Kinh Thánh ấy, lời mời gọi “Hãy bừng sáng lên” mang một chiều kích mục vụ rất cụ thể, không chỉ đối với đời sống Hội Thánh, mà còn đối với đời sống thường ngày của mỗi Kitô hữu.

Trước hết, ánh sáng ấy được mời gọi bừng lên trong các gia đình Kitô hữu. Gia đình, được Công đồng Vaticanô II gọi là “Hội Thánh tại gia” (x. LG, 11), là nơi ánh sáng của Đức Kitô được phản chiếu một cách âm thầm nhưng bền bỉ trong cuộc sống thường ngày. Ánh sáng ấy bừng lên khi gia đình có đời sống cầu nguyện chung sớm tối, khi vợ chồng biết trung thành, tôn trọng và nâng đỡ lẫn nhau, khi cha mẹ kiên nhẫn giáo dục con cái trong sự thật và tình yêu, và khi các thành viên biết tha thứ, hòa giải thay vì để bóng tối của giận hờn và chia rẽ lấn át. Trong một xã hội nhiều bất ổn, một gia đình sống yêu thương và cầu nguyện chính là một dấu chỉ Hiển Linh sống động.

Tiếp đến, ánh sáng ấy được mời gọi bừng lên trong các cộng đoàn giáo xứ. Một giáo xứ chỉ thực sự bừng sáng khi không khép kín trong sinh hoạt nội bộ, nhưng biết mở ra với sứ mạng loan báo Tin Mừng, bác ái và phục vụ. Ánh sáng Hiển Linh được nhận ra khi cộng đoàn biết đón tiếp người nghèo, người yếu thế, người bị bỏ quên, và khi các hoạt động mục vụ thực sự dẫn con người đến cuộc gặp gỡ sống động với Đức Kitô, chứ không chỉ dừng lại ở hình thức.

Sau cùng, lời mời gọi “Hãy bừng sáng lên” chạm đến trách nhiệm cá nhân của mỗi Kitô hữu. Đức Giêsu đã dạy rõ: “Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,16). Mỗi hành vi bác ái âm thầm, mỗi lựa chọn trung thực giữa một xã hội đầy gian dối, mỗi cử chỉ phục vụ vô vị lợi đều có thể trở thành một tia sáng Hiển Linh giữa đời thường.

Bài Tin Mừng kết thúc bằng một chi tiết ngắn gọn nhưng mang chiều sâu hoán cải: “Sau khi được báo mộng, các đạo sĩ đã đi con đường khác mà trở về xứ sở mình” (Mt 2,12). Gặp được Ánh Sáng thì không thể tiếp tục đi trên con đường cũ. Lễ Hiển Linh, vì thế, không chỉ mời gọi chúng ta chiêm ngắm ánh sáng từ xa, nhưng thúc đẩy mỗi người trở thành nơi ánh sáng ấy tiếp tục bừng lên: trong gia đình, trong cộng đoàn, và giữa lòng thế giới hôm nay.

Lạy Chúa Giêsu Kitô, Ánh Sáng muôn dân, xin cho chúng con biết mở lòng đón nhận ánh sáng của Chúa, để đời sống chúng con được biến đổi và trở nên chứng tá cho Tin Mừng. Xin cho gia đình, cộng đoàn và mỗi người chúng con biết bừng sáng bằng cầu nguyện, bác ái và những chọn lựa chân thật mỗi ngày, để danh Cha được tôn vinh và ánh sáng của Chúa lan tỏa khắp trần gian. A-men.

Lm. Anthony Trung Thành

Thiên Chúa Tỏ Mình Ra

(Lễ Hiển Linh)

Theo dòng lịch sử cứu độ, Thiên Chúa luôn tỏ mình ra cho con người. Việc Thiên Chúa tỏ mình không nhằm thỏa mãn trí tò mò của con người, nhưng để mạc khải ý định yêu thương của Ngài, mời gọi con người được tham dự vào sự sống đời đời của chính Thiên Chúa.

Nhiều lần, Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho con người bằng lời nói. Chẳng hạn, Ngài nói với ông Mô-sê, nói với các ngôn sứ, rồi Mô-sê và các ngôn sứ lại truyền đạt lời ấy cho dân chúng. Tiêu biểu là khi Thiên Chúa mạc khải cho ông Mô-sê ý định giải thoát dân Ít-ra-en khỏi ách nô lệ Ai Cập để đưa họ về Đất Hứa, và ông Mô-sê được sai đi loan báo điều đó cho dân (x. Xh 6,1–13).

Bên cạnh lời nói, Thiên Chúa cũng tỏ mình ra bằng những hành động can thiệp mạnh mẽ trong lịch sử. Ngài khiến nước Biển Đỏ rẽ ra như bức tường thành để dân Ít-ra-en đi qua (x. Xh 14,15–31); hoặc Ngài cho mưa diêm sinh và lửa từ trời thiêu hủy thành Xô-đôm và Gô-mô-ra vì tội lỗi của họ (x. St 19,1–29). Qua những hành động ấy, Thiên Chúa vừa bày tỏ quyền năng, vừa mặc khải sự công thẳng và thánh thiện của Ngài.

Thiên Chúa còn tỏ mình ra theo từng giai đoạn của lịch sử cứu độ, cách tiệm tiến và phù hợp với khả năng đón nhận của con người. Khoảng năm 1850 trước Công Nguyên, Ngài tỏ mình ra cho ông Áp-ra-ham và thử thách đức tin của ông qua việc đòi hiến tế người con duy nhất là I-xa-ác. Ông Áp-ra-ham đã vâng phục, nhưng được Thiên thần can ngăn; và vì lòng tin tuyệt đối ấy, Thiên Chúa đã hứa ban cho ông một dòng dõi đông đúc như sao trên trời và như cát ngoài bãi biển (x. St 22,1–19).

Khoảng năm 1250 trước Công Nguyên, Thiên Chúa tỏ mình ra cho ông Mô-sê nơi bụi cây bốc cháy, tự xưng là Thiên Chúa của Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp, đồng thời mạc khải ý định giải phóng dân Ít-ra-en khỏi ách nô lệ Ai Cập (x. Xh 3,1–22).

Khoảng năm 1000 trước Công Nguyên, qua ngôn sứ Na-than, Thiên Chúa hứa với vua Đa-vít rằng Đấng Cứu Thế sẽ sinh ra từ dòng dõi của ông (x. 2 Sm 7,11–16).

Từ năm 721 trước Công Nguyên, Thiên Chúa tiếp tục tỏ mình ra qua các ngôn sứ như I-sai-a, A-mốt, Hô-sê, Giê-rê-mi-a, Ê-dê-ki-en…, để kêu gọi dân hoán cải và nuôi dưỡng niềm hy vọng cứu độ.

Sau cùng, Thiên Chúa đã tỏ mình ra cách trọn vẹn và viên mãn nơi Đức Giê-su Ki-tô. Vì thế, lễ Giáng Sinh là ngày Thiên Chúa tỏ mình ra cho dân Do Thái, khi các Thiên thần loan báo cho các mục đồng: “Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa” (Lc 2,11).

Còn lễ Hiển Linh mà chúng ta mừng kính hôm nay là ngày Thiên Chúa tỏ mình ra cho muôn dân, cách đặc biệt qua hình ảnh các đạo sĩ được ngôi sao dẫn đường (x. Mt 2,1–12).

Cũng trong dòng mạc khải ấy, ông Si-mê-on nhận ra Hài Nhi Giê-su là Đấng Cứu Thế nhờ Thánh Thần soi dẫn (x. Lc 2,25–32), và bà An-na cũng được ơn nói tiên tri, loan báo về Hài Nhi cho mọi người đang mong chờ ơn cứu độ (x. Lc 2,36–38).

Trong ba năm đời sống công khai, Đức Giê-su tiếp tục tỏ mình ra cho các môn đệ và dân chúng bằng lời giảng dạy và các phép lạ Người thực hiện. Người mạc khải Thiên Chúa là ai, mầu nhiệm Ba Ngôi, cũng như ý nghĩa đời sống, số phận đời đời của con người và của vũ trụ. Cuối cùng, qua mầu nhiệm Tử nạn, Phục sinh và Thăng thiên, Người hoàn tất công trình cứu độ, và sẽ còn ngự đến trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết (x. Mt 25,31–46).

Như vậy, nếu không có mạc khải của Thiên Chúa và nhất là mạc khải nơi Đức Giê-su Ki-tô, con người không thể biết Thiên Chúa là ai và ý định của Ngài ra sao. Các mục đồng sẽ không biết Đấng Cứu Thế nếu không được Thiên thần loan báo; các đạo sĩ sẽ không gặp được Đức Giê-su nếu không có ngôi sao dẫn đường; các Tông đồ sẽ không hiểu mầu nhiệm Thiên Chúa nếu không được chính Đức Giê-su mạc khải. Cũng vậy, mỗi người Ki-tô hữu chúng ta không thể biết Chúa nếu không nhờ Giáo Hội, cha mẹ và các thầy cô giáo lý viên. Và những người chưa biết Chúa sẽ không thể nhận ra Người nếu không có các Ki-tô hữu làm chứng cho Tin Mừng.

Vì thế, ngày hôm nay, Thiên Chúa vẫn tiếp tục tỏ mình ra cho nhân loại qua trung gian các Ki-tô hữu. Ngài tỏ mình qua lời nói và việc làm của chúng ta. Có người giới thiệu về Chúa bằng lời rao giảng như thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê; có người làm cho người khác nhận ra Chúa qua những việc bác ái yêu thương như thánh Tê-rê-xa Cal-cut-ta.

Trong Bài đọc I hôm nay, ngôn sứ I-sai-a mời gọi: “Hãy bừng sáng lên” (Is 60,1). Điều đó có nghĩa là để ánh sáng của Đức Ki-tô đi qua đời sống chúng ta mà chạm đến người khác: bừng sáng tình thương nơi oán ghét, bừng sáng tha thứ nơi xúc phạm, bừng sáng hòa giải nơi chia rẽ, bừng sáng chân lý nơi giả dối, bừng sáng đức tin nơi hoài nghi, bừng sáng hy vọng nơi thất vọng, và bừng sáng niềm vui nơi u sầu.

Khi sống như thế, người khác sẽ nhận ra Thiên Chúa, hoặc ít là nhận ra chúng ta là con cái của Ngài. Một câu chuyện khuyết danh thường được truyền kể minh họa điều ấy: Một buổi tối mùa đông lạnh giá, một cậu bé nghèo đứng run rẩy trước cửa kính một cửa hiệu giày. Một người phụ nữ đi ngang qua, nhận ra ánh mắt khao khát của em, đã dắt em vào cửa hàng, mua cho em một đôi giày mới và quần áo ấm. Trước khi chia tay, cậu bé ngước lên hỏi: “Bà có phải là Chúa không?” Người phụ nữ mỉm cười đáp: “Không, ta chỉ là một trong những người con của Ngài.” Cậu bé reo lên: “Cháu biết mà, chắc bà phải có họ hàng với Chúa!”

Ước mong rằng qua lời nói và việc làm của chúng ta cũng giúp người khác nhận ra Thiên Chúa, hoặc ít là họ nhận ra chúng ta là những người “có họ hàng với Ngài.”

Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con, vì yêu thương, Cha đã tỏ mình ra cho nhân loại nơi Đức Giê-su Ki-tô. Xin cho chúng con luôn tin yêu Cha, và biết dùng lời nói cùng việc làm của đời sống mỗi ngày để giới thiệu Cha cho anh chị em mình. A-men.

Lm. Anthony Trung Thành

Ánh Sáng Muôn Dân

(Is 60,1-6; Tv 71; Ep 3,2-3a.5-6; Mt 2,1-12)

“Ngày thánh đã bừng lên chiếu rọi chúng ta. Muôn dân hỡi, hãy đến thờ lạy Chúa. Vì hôm nay, ánh huy hoàng rực rỡ toả xuống khăp trần gian”. Lời ca nhập lễ diễn tả Mầu Nhiệm Thiên Chúa làm người, Đấng là Vầng hồng từ chốn trời cao viếng thăm dân Người hầu soi chiếu cho những ai ngồi trong u tuối, trong bóng tử thần (x. Lc 1,78-79). Lễ Hiển Linh nằm trong ý nghĩa ấy. Thiên Chúa mặc khải vinh quang của Người cho muôn dân nước, để họ biết kính tôn, thờ lạy Người. Qua sứ điệp Lời Chúa hôm nay, xin gợi lên ba điểm để cùng suy niệm: Hai ánh sao, ba thái độ và lời gọi mời.

  1. Ánh sao của vũ trụ và sự soi dẫn của Lời Chúa

Bài Tin mừng chỉ cho chúng ta thấy những ánh sáng soi dẫn tới Nguồn Sáng đích thực. Tin mừng giới thiệu ánh sao trời xuất hiện với các nhà chiêm tinh “chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện bên Phương Đông và chúng tôi đến triều bái Người” (c.2). Chính vũ trụ càn khôn là dấu chỉ, lối dẫn chúng ta tới Căn Cội của mọi loài. Thánh vịnh 18 diễn tả: “Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa, không trung loan báo việc tay Người làm” (c.2). Thánh Phaolô khẳng định tự nhiên là mạc khải dẫn người ta tới Thiên Chúa, rằng: “Những gì người ta có thể biết về Thiên Chúa thì thật là hiển nhiên trước mặt họ, vì chính Thiên Chúa đã cho họ thấy rõ. Quả vậy, những gì người ta không thể nhìn thấy được nơi Thiên Chúa, tức là quyền năng vĩnh cửu và thiên tính của Người, thì từ khi tạo thành vũ trụ, trí khôn con người có thể nhìn thấy được qua những công trình của Ngài” (Rm 1,19-20).

Ánh sao soi đường cho các nhà chiêm tinh là đại diện cho vũ trụ. Chính vũ trụ trở nên lối dẫn tới Đấng là Ngôi Lời, căn nguyên của mọi hiện hữu, Đấng ghi dấu ấn trong mọi tạo thành. Đó là con đường của lý trí dẫn tới việc chân nhận Chúa Tể càn khôn – mặc khải tự nhiên.

Qua vũ trụ, nhờ ÁNH SÁNG LÝ TRÍ, con người có thể nhận ra Thiên Chúa. Tuy nhiên để có thể tới chiêm bái Thiên Chúa mặt giáp mặt, con người cần tới ÁNH SÁNG ĐỨC TIN – Lời mặc khải. Quả vậy, các nhà chiêm tinh đã nại tới sự chỉ dẫn của Thánh Kinh. Ánh sao trời, ám chỉ vương quyền, sự soi dẫn của Lời mạc khải dẫn tới Đấng là Ánh Sáng bởi Ánh Sáng (x. Ga 1,5): “Phần ngươi, hỡi Bethlem, miền đất Giuda, ngươi đâu phải là thánh nhỏ nhất của Giuda, vì ngươi là nơi vị thủ lãnh, chăn dắt Israel dân Ta sẽ ra đời” (Mt 2,6).

Câu chuyện Giáng Sinh với các ánh sao đưa nhân loại tập chú vào Hài Nhi Giêsu, Thiên Chúa thành nhân, Người là Sao Mai đích thực dọi chiếu trong đêm linh thánh và chiếu sáng hừng đông cho nhân loại như lời thánh thi Kinh Sáng thứ 6 tuần III giới thiệu: “Kỳa Sao Mai xuất đầu lộ diện, báo tin vui xuất hiện Vầng Hồng. Đêm tàn đỏ ửng trời đông. Bình minh soi chiếu cõi lòng nhân gian”.

Nơi Đức Giêsu, Ngôi Lời Nhập Thể, vinh quang của Đức Chúa đã bao trùm Giêrusalem và toàn thể nhân loại, xua tan bóng đêm đang bao phủ địa cầu như lời tiên báo của Isaia trong bài đọc 1 và trong bài đáp ca: “Giêrusalem hỡi, vì sự sáng của ngươi đã tới, vì vinh quang của Chúa đã bừng dậy trên ngươi..”. “Muôn dân sẽ lần bước tìm về sự sáng của ngươi” (Is 10,2), để bái thờ Đấng là Ánh quang đích thực.

  1. Ba khuôn mặt, ba thái độ

Ba Đạo sĩ Phương Đông, đại diện cho tất cả những người thành tâm kiếm tìm Thiên Chúa trong các tôn giáo và trong các triết lý của toàn thế giới, một cuộc kiếm tìm vô tận. Họ làm thành đoàn lũ những người kiếm tìm Thiên Chúa thuộc mọi thời đại, kiếm tìm sự soi dẫn để đến với Chúa. Trên con đường tìm kiếm ấy, ba nhà Đạo sĩ đã gặp nhiều khó khăn, những cám dỗ, tăm tối và thất vọng.

Nhờ Thánh Thần gợi ý qua các lời tiên tri trong Thánh Kinh, họ biết Đấng Cứu Thế sinh ra tại Betlehem, trong thành Đavít. Và họ đã lại ra đi, trông thấy ánh sao và rất đỗi vui mừng. Họ tìm thấy Con Trẻ và Maria, Mẹ Người, rồi qùy thờ lạy Hài Nhi và dâng các lễ vật biểu tượng. Ơn của Chúa Thánh Thần đã giúp họ và hướng dẫn họ nhận ra rằng các tiêu chuẩn của Thiên Chúa rất khác các tiêu chuẩn của loài người, rằng Thiên Chúa không tự biểu lộ ra trong quyền năng của thế giới này, nhưng hướng tới chúng ta trong sự khiêm hạ tình yêu của Người.

Như thế các nhà Đạo sĩ là gương mẫu sự trở về với niềm tin đích thực, bởi vì họ đã tin vào lòng lành của Thiên Chúa hơn là nơi ánh quang bề ngoài của quyền lực.

Khuôn mặt thứ hai là các nhà thông luật, tinh thông Kinh thánh, biết mà không biết: “Trố mắt nhìn mà không thấy” (Mt 13,14; Is 6,9). Họ là đại diện cho những người xem ra biết, uyên thâm nhưng chỉ dừng lại ở những “con chữ”. Những người này có khả năng đọc bản văn nhưng không nhận ra ý nghĩa đằng sau những văn tự ấy. Nói cách khác, họ có khả năng nhảy múa với những con chữ, ngữ nghĩa nhưng không có sự khiêm tốn, thông tuệ, minh trí đích thực để thấy thực tại vô hình lớn hơn những cái hữu hình vốn chỉ là phản ảnh.

Hêrôđê, kẻ bị kìm hãm trong vòng vây bóng tối quyền lực, sợ hãi và không dám đối diện với chính mình. Ông chạy trốn, phòng thủ bằng sự nguy trang như thể chính nhân, minh vương để che đậy sự sợ hãi của mình. Quyền bính làm cho người ta không dám nhìn nhận mình là người dòn mỏng, yếu đuối và quan trọng hơn, cần quy phục thứ quyền bính đích thực đến từ Ai khác, từ Thiên Chúa.

Chúng ta đây, mỗi người một khuôn mặt và cũng mang trong mình một dạng tâm thái. Chúng ta là những người kiếm tìm Thiên Chúa đích thực như các Đạo sĩ hay là những người chỉ dừng lại ở việc thi hành các bổn phận như các kinh sư hay là những kẻ khát danh vọng, quyền lực trần thế?

  1. Lời gọi mời tìm về Nguồn Sáng Thật

“Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đã đến và chiếu soi mọi người” (Ga 1,9). “Ngôi Lời đã làm người và ở giữa chúng ta. Chúng tôi đã nhìn thấy vinh quang của Người. Vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người (Ga 1,14).

Những biến cố, những dấu chỉ trong cuộc sống có thể trở nên những ánh sao soi dẫn chúng ta tới Thiên Chúa. Đức Thánh Cha Phanxicô khích lệ mọi người biết tìm kiếm Chúa Giêsu hiện diện nơi các anh chị em bé nhỏ, khổ đau, nạn nhân của chiến tranh, của các tệ nạn khai thác bóc lột trẻ em, tra tấn, buôn bán khí giới, buôn bán người, nhất là trong cảnh huống tang thương mà nhân loại phải đối diện.

Hang đá chỉ cho chúng ta một con đường khác với con đường mà tâm thức trần gian hoạch định, đó là con đường hạ mình của Thiên Chúa, trong đó vinh quang của Người được dấu ẩn trong máng cỏ Betlehem, nơi thập giá trên đồi Calvario, nơi các anh chị em đau khổ. Quả thực, vinh quang Thiên Chúa được biểu lộ cách trọn vẹn trên thập giá (x. Ga 8,28), khi mầu nhiệm Nhập thể – tự huỷ của Đức Giêsu đạt tới chóp đỉnh.

Xin Chúa cho chúng ta cũng biết bước vào hành trình kiếm tìm, hành trình đi vào mầu nhiệm Nhập Thể – Thiên Chúa thành nhân và ở giữa chúng như ba Đạo sĩ. Xin Chúa bảo vệ và giải thoát chúng ta khỏi những cám dỗ che dấu các ánh sao giúp chúng ta tiến đến gặp Chúa Giêsu. Xin Chúa giải thoát chúng ta khỏi các ảo tưởng, những tự phụ, các thứ “ánh sáng” giả tạo của chúng ta để chúng ta can đảm tìm Chúa trong sự khiêm nhường của lòng tin và có thể gặp Chúa là Ánh Sáng, nhất là biết chiêm bái Chúa Cứu Thế qua dấu chỉ khiêm tốn của một trẻ thơ đã được ban tặng cho chúng ta. Amen.

Lm. Petrus Lửa Hồng

Những Thái Độ Khác Nhau

Is 60,1-6; Ep 3,2-3a.5-6; Mt 2,1-12

Hôm nay, chúng ta long trọng cử hành lễ Hiển Linh. Từ cổ xưa, lễ này được gọi là ‘lễ Ánh Sáng’ hay ‘lễ Ba Vua;’ nay gọi là ‘lễ Hiển Linh’ trong tiếng Hy Lạp là Epifania, có nghĩa là sự tỏ mình, sự bày tỏ vinh quang. Thiên Chúa tỏ mình ra cho nhân loại nhờ Con Chúa làm người. Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế và là Ánh Sáng cho muôn dân.

Chúng ta bám sát trình thuật của thánh Mátthêu (Mt 2,1-12) về ba Đạo Sĩ đến Bêlem để triều yết Hài Nhi Giêsu, qua đó, chúng ta tìm thấy chỉ dẫn thực hành cho đời sống chúng ta.

Trong trình thuật này, yếu tố lịch sử được hòa trộn với những yếu tố thần học và biểu tượng. Hay nói cách khác, tác giả Tin Mừng không chỉ muốn trình bày những sự kiện lịch sử đã xảy ra, nhưng còn muốn gửi gắm những sứ điệp, những giáo huấn qua những nhân vật liên quan để người đọc noi gương, hoặc để xa tránh. Theo đó, có ba phản ứng khác nhau nổi lên trước thông tin về Hài Nhi Giêsu sinh ra: Đó là phản ứng của các Đạo Sĩ, phản ứng của Hêrôđê và phản ứng của các thượng tế và luật sĩ. Chúng ta hãy bắt đầu từ những phản ứng tiêu cực, là những phản ứng mà chúng ta cần xa tránh.

1. Thái độ của Hêrôđê

Trước hết, đó là thái độ của Hêrôđê. Khi hay tin về việc con vua Đavít vừa mới sinh ra, ông ta “liền rất bối rối.” Bởi vì, ông là bạo chúa, đầy thủ đoạn, độc ác và độc tài, ông không muốn ai có thể chiếm đoạt vương quyền của mình. Nên ông đã triệu tập công nghị với các thượng tế và luật sĩ không phải để biết chân lý nhưng để nắm tình hình. Hêrôđê cũng bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện và phái các vị ấy đi Bêlem và dặn rằng:

“Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người” (Mt 2,7-9).

Thực ra ông muốn biết không phải để đến thờ lạy Đấng Cứu Thế, nhưng để bày mưu tính kế giết hại Người. Giữa ý muốn của Thiên Chúa và ý muốn của mình, Hêrôđê đã đương nhiên chọn ý mình. Nên ông đã thẳng tay làm những gì ông muốn và dẹp bỏ mọi nguy cơ đe dọa đến vương quyền của mình. Vì thế, sau khi không thấy các Đạo Sĩ trở lại trình báo, ông nổi cơn thịnh nộ và sai người đi giết tất cả các con trẻ ở Bêlem và toàn vùng lân cận, từ hai tuổi trở xuống, tính theo ngày tháng ông đã hỏi các nhà chiêm tinh (x. Mt 2,16).

Khi làm như thế có lẽ Hêrôđê nghĩ rằng ông đang chu toàn bổn phận của mình đối với thiện ích chung là bảo vệ quốc gia trong trật tự và bình an.

Hêrôđê là đại diện cho những kẻ độc tài, độc ác trên trần gian, những kẻ chỉ biết lo bảo vệ chính mình và bằng mọi giá để củng cố quyền lực, hay lợi ích nhóm, bất chấp đạo đức, nhân phẩm và sự sống của người khác. Từ cái nhìn này, thế giới hôm nay và xã hội chúng ta đang sống cũng đầy dẫy những tên Hêrôđê như thế. Họ nhân danh thiện ích chung, nhân danh tổ quốc, và nhiều khi, còn nhân danh Thiên Chúa, để lên án và giết chết những người vô tội.

Chúng ta hãy nghĩ đến biết bao thai nhi bị giết khi chưa được chào đời; những người bị bắt và phải ở tù vì đã dám lên tiếng chống lại bất công xã hội và đấu tranh cho sự thật và công lý. Chúng ta hãy nghĩ đến những Kitô hữu, những linh mục, những nữ tu trên thế giới đang bị bách hại và giết chết vì dám đến truyền giáo ở những nước Hồi Giáo. Họ là những nạn nhân của Hêrôđê thời nay. Thái độ của Hêrôđê là thái độ chúng ta cần tránh.

2. Thái độ của các thượng tế và luật sĩ

Giờ đây chúng ta chuyển sang thái độ của các thượng tế và luật sĩ. Họ là những người thông thạo Kinh Thánh, nắm vững lề luật và hiểu biết các lời ngôn sứ về Đấng Cứu Thế mà Ítraen từ lâu trông đợi. Khi được Hêrôđê và các Đạo Sĩ hỏi về Đấng Mêsia sinh ra ở đâu, họ nhanh chóng đưa ra câu trả lời rất đúng. Họ biết rõ Đấng Mêsia đã sinh ra ở đâu, họ cũng có thể nói với người khác, nhưng họ không thay đổi. Họ không lên đường. Họ hành động như những bảng chỉ đường: chỉ đường để đi, nhưng lại nằm bất động bên đường. Họ không chạy tới Bêlêm, để thờ lạy Đấng Mêsia. Họ chỉ thích bám víu vào sự ổn định và an toàn trong đền thờ, tại Giêrusalem, bởi vì ở đó họ được dân chúng kính trọng, được hưởng bổng lộc từ bàn thờ… Nhưng thật nghịch lý, họ đang xa cách Thiên Chúa, không được ơn cứu độ.

Nên thái độ của của những thượng tế và luật sĩ khiến chúng ta một cách nghiêm túc xét mình lại. Bởi lẽ, rất nhiều lần, chúng ta biết rõ những điều Chúa muốn chúng ta làm, những điều cần thiết để theo Chúa và nếu cần, chúng ta có thể nói rất hay, giải thích rất rõ cho người khác, nhưng chúng ta lại thiếu sự can đảm và tính triệt để sống và thực hành một cách nghiệm túc.

Cũng như các thượng tế và luật sĩ, chúng ta thích bám víu vào cơ cấu ổn định và an toàn của truyền thống, văn hóa và thói quen, nhưng ngại thay đổi, không muốn ra đi và ra ngoài để gặp gỡ người khác, đặc biệt là chúng ta thường ngại lên đường để tìm kiếm Chúa và truyền giáo cho nhưng người xung quanh.

3. Thái độ của các Đạo Sĩ

Cuối cùng chúng ta hãy đến với những nhân vật chính của thánh lễ, đó là Ba Đạo Sĩ. Họ là những nhà chiêm tinh đến từ Phương Đông, chính xác là ở Ba Tư. Họ vốn là lớp người trí thức của thời đại, thường thuộc hàng tư tế và làm cố vấn cho các vua. Họ đã dùng sự hiểu biết và nhạy bén của mình để tìm hiểu về những dấu lạ loan báo Đấng Cứu Thế đã xuất hiện. Họ lên đường theo ánh sao dẫn đường để tìm kiếm, chiêm bái Người. Hành trình của họ rất dài với những khó khăn và trắc trở, họ đi bằng lạc đà chứ không phải bằng máy bay như ngày hôm nay. Họ không có GPS để dẫn đường, chỉ lần theo ánh sao và nhiều lúc lạc đường, phải hỏi người này người kia… Nhưng bất chấp mọi khó khăn và nguy hiểm, cuối cùng họ đã đến tại nơi Hài Nhi ở. Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình thờ lạy Người. Rồi họ mở bảo tráp lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến Người.

Các Giáo Phụ thường giải thích các lễ vật dâng Chúa Hài Nhi theo nghĩa tượng trưng: Vàng chỉ Hài Nhi là Vua; nhũ hương chỉ Thiên Chúa; mộc dược chỉ nhân tính hay cái chết của Người. Ngày nay, có một giải thích khác, vàng tượng trưng cho đức tin; nhũ hương tượng trưng cho đức cậy, mộc dược tượng trưng cho đức mến của ba Đạo Sĩ và của mỗi người dâng lên Chúa.

Như thế, các Đạo Sĩ dạy cho chúng ta những bài học không phải bằng lời nói nhưng bằng việc làm, không phải bằng lý thuyết nhưng gương sống. Họ không nấn ná, chần chừ. Họ đã lên đường. Họ bỏ lại đằng sau sự an toàn của môi trường thân quen, nơi họ được nhiều người biết đến và được kính trọng. Khi “họ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hêrôđê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình.” Đây là lời minh chứng về sự thay đổi đời sống sau khi họ đã gặp Chúa Giêsu, khi họ thay đổi con đường cũ họ đi.

Bất cứ cuộc gặp gỡ nào với Chúa Kitô đều mang lại sự biến đổi tận căn về cuộc đời. Bởi thế, trong những ngày Giáng Sinh này, chúng ta được mời gọi hãy đến gặp gỡ Chúa qua bí tích Giải Tội và Thánh Thể, nơi đó Thiên Chúa đã bày tỏ lòng thương xót và ơn cứu độ cho chúng ta để nhờ đó chúng ta cũng được biến đổi đời sống của mình tốt hơn, thánh thiện hơn. Amen!

 Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương


Nguồn: Giáo phận Hà Tĩnh

Đăng nhận xét